Chương trình Tiến sĩ Kế toán là chương trình đào tạo sau đại học chuyên sâu để chuẩn bị cho người học sẵn sàng với những vị trí nghề nghiệp tiềm năng ở các cấp bậc cao nhất trong đơn vị thuộc khu vực tư, khu vực công, chính phủ hoặc tổ chức giáo dục. Chương trình này được thiết kế giúp người học đạt được các kỹ năng và kiến thức phục vụ công việc giảng dạy, tư vấn hoặc lãnh đạo. Nghiên cứu sinh sau khi thoả mãn điều kiện tốt nghiệp sẽ nhận học vị Tiến sĩ, ngành Kế toán, ghi nhận người học đã sẵn sàng để đóng góp tri thức mới vào lý thuyết và xu hướng nghiên cứu kế toán, cũng như sẵn sàng phát triển các ứng dụng thực tế trong khoa học kế toán. Quan trọng nhất, mục tiêu của chương trình Tiến sĩ Kế toán là cung cấp môi trường hỗ trợ để giúp người học bắt đầu nghiên cứu có thể tiếp xúc với cộng đồng nghiên cứu rộng hơn, từ đó người học từng bước tiến vào cộng đồng các học giả, được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ để theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu chuyên nghiệp.
Theo quy định hiện hành của UEH.
Căn cứ Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ và Quyết định 1750/QĐ-ĐHKT-ĐT ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ.
Điều 3. Phương thức và thời gian tuyển sinh
1. Phương thức tuyển sinh: xét tuyển.
2. Số lần tuyển sinh trong năm: 01 hoặc nhiều lần.
Điều 4. Điều kiện dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ
Người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Có bằng tốt nghiệp thạc sĩ ngành phù hợp hoặc bằng đại học loại giỏi trở lên ngành phù hợp theo danh mục tại Phụ lục I. (Quy định ban hành theo Quyết định 2723/QĐ-ĐHKT-ĐBCLPTCT ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh)
2. Có kinh nghiệm nghiên cứu thể hiện qua 01 (một) trong các điều kiện sau:
a) Luận văn thạc sĩ của chương trình đào tạo thạc sĩ hướng nghiên cứu.
b) Giảng viên, nghiên cứu viên có thời gian công tác từ 02 năm (24 tháng) trở lên của các cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ.
c) Là tác giả 01 bài báo hoặc báo cáo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục được tính điểm của Hội đồng Giáo sư nhà nước hoặc kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành có phản biện được xuất bản.
3. Người dự tuyển phải có một trong những minh chứng về năng lực ngoại ngữ như sau:
3.1. Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ bằng tiếng Việt:
a) Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc thạc sĩ, tiến sĩ do cơ sở đào tạo nước ngoài, phân hiệu của cơ sở đào tạo nước ngoài ở Việt Nam hoặc cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp cho người học toàn thời gian bằng tiếng nước ngoài;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ nước ngoài do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp;
c) Có chứng chỉ trình độ tiếng Anh tương đương cấp độ B2 hoặc bậc 4/6 trở lên theo Khung tham chiếu Châu Âu chung về ngoại ngữ và các chứng chỉ khác tương đương được Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép sử dụng, còn trong thời hạn 02 năm (24 tháng) tính đến ngày đăng ký dự tuyển (theo bảng Phụ lục II);
d) Người dự tuyển là công dân nước ngoài phải có trình độ tiếng Việt tối thiểu từ Bậc 4 trở lên theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài.
3.2. Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ bằng tiếng Anh:
a) Là công dân của quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc bằng thạc sĩ do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp cho người học toàn thời gian ở nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong quá trình học tập là tiếng Anh;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ Anh do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp;
d) Có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 65 trở lên (do IIG, IIE hoặc các trung tâm do ETS ủy quyền cấp) hoặc chứng chỉ IELTS (Academic Test) từ 6.0 trở lên (do British Council hoặc IDP Australia hoặc University of Cambridge cấp), và các chứng chỉ khác tương đương được Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép sử dụng còn trong thời hạn 02 năm (24 tháng) tính đến ngày đăng ký dự tuyển (theo bảng Phụ lục II).
| Học kỳ (dự kiến) | Loại học phần | Môn học |
|---|---|---|
| Học kỳ 1 (10 tín chỉ) | Bắt buộc | |
| Bắt buộc | ||
| Tự chọn | ||
| Tự chọn | ||
| Bắt buộc | ||
| Học kỳ 2 (6 tín chỉ) | Bắt buộc | |
| Bắt buộc | ||
| Tự chọn | ||
| Tự chọn | ||
| Tự chọn | ||
| Học kỳ 3 (19 tín chỉ) | Bắt buộc | |
| Bắt buộc | ||
| Bắt buộc | ||
| Học kỳ 4 (10 tín chỉ) | Bắt buộc | |
| Học kỳ 5 (45 tín chỉ) | Bắt buộc |
3.1.1 Chuẩn đầu ra Kiến thức (Knowledge)
3.1.2 Chuẩn đầu ra Kỹ năng (Skills)
3.1.3 Chuẩn đầu ra Mức độ tự chủ và trách nhiệm (Autonomy and Responsibility)
Tổ chức Organization | Vị trí Position | Miêu tả công việc Job description |
Cao đẳng, đại học | Giảng viên ở các trường Cao đẳng và Đại học | Các giảng viên trường cao đẳng và đại học hướng dẫn sinh viên kế toán và tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Các nhiệm vụ bao gồm phát triển chương trình giảng dạy, tư vấn cho sinh viên, chấm điểm bài làm của sinh viên, và xuất bản các bài báo học thuật. |
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn | Chuyên gia tư vấn, chuyên gia phân tích, cố vấn | Thường được tuyển dụng bởi các công ty lớn, chuyên gia tư vấn, nhà phân tích và cố vấn hoặc nhà phân tích quản lý, giúp các tổ chức khách hàng của họ cải thiện tỷ suất lợi nhuận. Bằng cách đánh giá dữ liệu tài chính, nói chuyện với nhân viên và quan sát các hoạt động tổng thể, họ đưa ra các đề xuất về các biện pháp cắt giảm chi phí, tái cấu trúc và cải thiện hoạt động. |
Doanh nghiệp khu vực tư | Trưởng phòng/ Giám đốc tài chính | Vai trò của người quản lý tài chính – đôi khi được gọi là kế toán quản lý – là có cái nhìn bao quát về hoạt động tài chính của tổ chức của họ. Các nhà quản lý tài chính giúp thiết lập các giao thức liên quan đến ngân sách, xử lý các khoản đầu tư và giám sát nhân viên. Họ cũng sàng lọc dữ liệu tài chính để cung cấp các báo cáo quan trọng cho các giám đốc điều hành cấp cao hơn, những người sử dụng thông tin để thiết lập các mục tiêu và quy trình. |
Tổ chức khu vực công | Nhà nghiên cứu chính sách công | Các nhà nghiên cứu chính sách công thực hiện các nhiệm vụ tương tự như các nhà phân tích quản lý. Được tuyển dụng ở cấp địa phương, cấp quốc gia, nhà nghiên cứu chính sách công giám sát hoạt động tài chính để xác định các vấn đề và đề xuất cải tiến. Ở cấp nhà nước, các nhà nghiên cứu chính sách công thường làm việc cho Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Chứng khoán (SEC), Viện Nghiên cứu. |